This is default featured slide 1 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 2 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 3 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 4 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 5 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

Thứ Bảy, 25 tháng 2, 2017

Bệnh mạn tính - nguyên nhân và biện pháp phòng tránh

Bệnh mạn tính là gì? nguyên nhân và biện pháp phòng tránh.

Bệnh mãn tính là loại  bệnh đang trở thành mối lo ngại ngày càng lớn cho gia đình và xã hội. Do nguyên nhân gây bệnh không rõ ràng nên việc điều trị gặp rất nhiều trở ngại. Ngoài ra, những hệ quả từ bệnh mãn tĩnh gây ra cũng ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng cuộc sống.
Các nhà khoa học HOA KỲ đã phát hiện ra nguyên nhân chủ yếu gây nên bệnh mãn tính là do cách ăn uống và không lựa chọn đúng loại thức ăn có các tố chất phòng và kháng bệnh cho con người.
Theo WHO, bệnh mãn tĩnh là bệnh tiến triển kéo dài hoặc hay tái phát, thời gian bị bệnh thường rất lâu. Bệnh mạn tính không thể ngừa bằng vắc xin, không thể chữa khỏi hoàn toàn và cũng không tự biến mất. Bệnh mạn tính phần lớn không do vi khuẩn, vi rút, ký sinh trùng hoặc nấm gọi là bệnh mạn tính không lây nhiễm. Xu hướng thế giới là bệnh mạn tính không lây nhiễm ngày càng nhiều. 
Bệnh có xu hướng tăng dần theo tuổi tác. Riêng nước Mỹ, ước tính đến năm 2049, số tàn tật chức năng do viêm xương khớp, đột quỵ, đái tháo đường, bệnh mạch vành, ung thư và suy tim tăng ít nhất 300 %. Thuật ngữ “mạn tính” có thể có hoặc không trong tên gọi bệnh lý.
Bốn loại bệnh không lây nhiễm chính là bệnh tim mạch (như nhồi máu cơ tim và đột quỵ), ung thư, bệnh hô hấp mãn tính (như bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính và hen phế quản) và đái tháo đường.
Chi tiết các loại bệnh trong bốn loại bệnh ở trên và một số nhóm bênh mãn tính khác:
·         Bệnh hô hấp mãn tính: bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính, viêm phế quản mãn, hen và khí phế thủng…
·         Bệnh nội tiết: béo phì, đái tháo đường…
·         Bệnh lý tâm thần kinh: sa sút trí tuệ, trầm cảm…
·         Bệnh tim mạch: tăng huyết áp, suy tim, bệnh tim thiếu máu cục bộ, bệnh mạch máu não…
·         Bệnh tự miễn như viêm loét đại tràng, lupus ban đỏ…
·         Bệnh xương khớp mãn tính: viêm khớp dạng thấp, viêm xương khớp (thoái khớp), loãng xương…
·         Hội chứng mệt mỏi mãn tính.
·         Suy thận mãn tính.
·         Ung thư.
·         Viêm gan mãn tính.
Gánh nặng của bệnh mạn tính là gì?
Bệnh mãn tính hiện nay là nguyên nhân tử vong và tàn tật chính trên thế giới. Các bệnh mạn tính không lây nhiễm chính như bệnh tim mạch, đái tháo đường, ung thư và bệnh đường hô hấp chiếm 57% trong 59 triệu tử vong hàng năm và 46% gánh nặng bệnh tật toàn cầu.
Mỗi năm, nhồi máu cơ tim gây chết 7,2 triệu người, đột quỵ (nhồi máu não và xuất huyết não) gây chết 5,5 triệu người còn tăng huyết áp và các bệnh tim khác gây chết 3,9 triệu người.
Hiện nay thế giới có hơn một tỉ người cân nặng vượt chuẩn và ít nhất 300 triệu người bị béo phì.
Ước tính có 177 triệu người đái tháo đường, phần lớn là đái tháo đường típ 2 và hai phần ba người đái tháo đường sống tại các nước đang phát triển.
Khoảng 75% bệnh tim mạch do các yếu tố chính sau gây ra: loạn mỡ máu, tăng huyết áp, ít ăn rau và trái cây, ít vận động thân thể và hút thuốc lá.
Năm trong số 10 yếu tố nguy cơ gánh nặng bệnh tật toàn cầu theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới năm 2002: béo phì, tăng huyết áp, loạn mỡ máu, uống rượu và hút thuốc lá là nguyên nhân gây bệnh mạn tính.
Thống kê Hoa Kỳ cho thấy người từ 65 tuổi trở lên, có 75% bị ít nhất một bệnh mạn tính và 50% bị ít nhất 2 bệnh mạn tính.
Tại sao lại mắc bệnh mạn tính?
Do sự tác động lâu dài của các yếu tố (Các độc tố, quá tải chức năng, tuổi tác, thói quen sinh hoạt, tâm sinh lý…) đến cơ thể gây suy giảm, thoái hóa, rối loạn các chức năng sống của cơ thể.
 Nguyên lý điều trị bệnh mạn tính là gì?
Giúp cơ thể phục hồi các chức năng sống để trở về trạng thái hoạt động bình thường phù hợp với sinh lý,  tuổi tác và môi trường sống.
 
Nguyên tắc chữa trị bệnh mạn tính như thế nào?

- Đặc điểm nổi bật trong điều trị bệnh mạn tính là áp dụng những chế độ kiểm soát bệnh lâu dài nhằm phục hồi chức năng, cải thiện chất lượng sống và hạn chế tối đa biến chứng thực thể và chức năng.
- Nên bắt đầu bằng tập luyện, phục hồi chức năng, thay đổi lối sống dùng thực phẩm chức năng hoặc thuốc có nguồn gốc tự nhiên. Đây là những biện pháp an toàn, không gây tác dụng phụ và phù hợp sinh lý.

- Chỉ dùng thuốc Tây khi thật cần thiết và phải có chỉ định của bác sỹ.
- Nâng cao kiến thức cho người bệnh để tự theo dõi, chăm sóc và kiểm soát bệnh.
- Kết hợp chặt chẽ giữa thầy thuốc và người bệnh trong việc áp dụng các chế độ điều trị: theo dõi bệnh, chế độ sinh hoạt, tập luyện, điều chỉnh thuốc.

Phòng bệnh mạn tính như thế nào?
Ăn nhiều rau và trái cây để phòng bệnh mạn tính
Ăn nhiều rau và trái cây để phòng bệnh mạn tính.
 
Theo ngạn ngữ cha ông, “phòng bệnh hơn chữa bệnh”, đây là giải pháp thông minh và ít tốn kém nhất.
 Các biện pháp phòng bệnh mạn tính bao gồm:
· Ăn nhiều rau và trái cây cũng như đậu và ngũ cốc toàn phần (ăn cả cùi của hạt, màng gạo),
 hạn chế ăn gạo xát trắng.
· Vận động thể lực mức độ trung bình mỗi ngày 30 phút, ít nhất 5 lần mỗi tuần.
· Chuyển từ ăn mỡ động vật bão hoà sang dầu thực vật chưa bão hoà.
· Giảm ăn mỡ, muối và đường.
· Duy trì cân nặng chuẩn (chỉ số khối cơ thể nằm trong khoảng 18,5 đến 24,9, tính bằng cách lấy cân nặng tính bằng kilogam chia cho bình phương chiều cao tính bằng mét).
· Không hút thuốc hoặc bỏ hút thuốc.
Có đến 80% bệnh mạch vành, 90% đái tháo đường típ 2 và 1/3 ung thư có thể tránh được nhờ chế độ ăn lành mạnh, tăng vận động thể lực và bỏ hút thuốc.
· Sàng lọc một số ung thư như ung thư đại tràng, tiền liệt tuyến, ung thư vú theo độ tuổi tương ứng; ví dụ: đàn ông từ 50 tuổi trở đi nên nội soi đại tràng để phát hiện ung thư đại tràng và xét nghiệm dấu ấn sinh học kháng nguyên tiền liệt tuyến (PSA-Prostate-specific antigen) 3 năm/lần để phát hiện ung thư tiền liệt tuyến còn phụ nữ từ 50 tuổi trở lên thì tự khám vú hàng tháng một lần và chụp tuyến vú 1-2 năm/lần đối với người có nguy cơ cao.

Khi đã bị rối loạn mỡ máu, tăng huyết áp, đái tháo đường, gút…việc chữa trị giúp bình ổn bệnh, hạn chế biến chứng, giúp người bệnh sinh hoạt bình thường, đặc biệt là giảm chi phí; ví dụ: nếu không kiểm soát tốt tăng huyết áp thì người bệnh có thể bị nhồi máu cơ tim; lúc xảy ra biến chứng, người bệnh không những phải chữa trị tăng huyết áp mà còn thêm chi phí chữa trị nhồi máu cơ tim vốn tốn kém gấp bội và sau khi qua cơn nguy cấp thì chi phí chữa bệnh bao gồm chi phí chữa tăng huyết áp , cao huyết áp và chi phí chữa di chứng nhồi máu cơ tim.
Ths Bs. Nguyễn Văn Xuân

Thứ Bảy, 31 tháng 12, 2016


THÔNG TIN VỀ CHỈ SỐ BMI
BMI (Body mass Index) là chỉ số được tính từ chiều cao và cân nặng, là một chỉ số đáng tin cậy về sự mập ốm của một người.
BMI không đo lường trực tiếp mỡ của cơ thể nhưng các nghiên cứu đã chứng minh rằng BMI tương quan với đo mỡ trực tiếp. BMI là phương pháp không tốn kém và dễ thực hiện để tầm soát vấn đề sức khoẻ.


1. Sử dụng BMI như thế nào?
BMI được sử dụng như là một công cụ tầm soát để xác định trọng lượng thích hợp cho người lớn. Tuy nhiên, BMI không phải là công cụ chẩn đoán. Ví dụ, một người có chỉ số BMI cao, để xác định trọng lượng có phải là một nguy cơ cho sức khoẻ không thì các bác sĩ cần thực hiện thêm các đánh giá khác. Những đánh giá này gồm đo độ dày nếp da, đánh giá chế độ ăn, hoạt động thể lực, tiền sử gia đình và các sàng lọc sức khoẻ khác.
2. Tại sao Cơ quan kiểm soát bệnh tật Hoa Kỳ - CDC sử dụng BMI để xác định sự thừa cân và béo phì?
Tính chỉ số BMI là một phương pháp tốt nhất để đánh giá thừa cân và béo phì cho một quần thể dân chúng. Để tính chỉ số BMI, người ta chỉ yêu cầu đo chiều cao và cân nặng, không tốn kém và dễ thực hiện. Sử dụng chỉ số BMI cho phép người ta so sánh tình trạng cân nặng của họ với quần thể nói chung. Công thức tính BMI theo đơn vị kilograms và mét (xem cách tính dưới đây)
Cách tính và đánh giá chỉ số BMI như thế nào? 

-  Cách đánh giá chỉ số BMI 
Đối với người lớn từ 20 tuổi trở lên, Sử dụng bảng phân loại chuẩn cho cả nam và nữ để đánh giá chỉ số BMI.
- BMI <16: Gầy độ III
- 16 ≤ BMI <17: Gầy độ II
- 17 ≤ BMI <18.5: Gầy độ I
- 18.5 ≤ BMI <25: Bình thường
- 25 ≤ BMI <30: Thừa cân
- 30 ≤ BMI 35: Béo phì độ 1
- 35 ≤ BMI <40: Béo phì độ II
- BMI >40: Béo phì độ III

Thứ Bảy, 17 tháng 12, 2016

Thứ Tư, 22 tháng 6, 2016

SAY NẮNG, SAY NÓNG: ĐÔI ĐIỀU CẦN BIẾT.



SAY NẮNG, SAY NÓNG: ĐÔI ĐIỀU CẦN BIẾT.
1. Say nắng, say nóng là gì?
Say nắng say nóng là tình trạng cơ thể bị rối loạn điều hòa thân nhiệt do làm việc, sinh hoạt trong điều kiện nắng, nóng trên 36oC, độ ẩm không khí lớn, bí gió.
2. Say nắng, say nóng có những dấu hiệu như thế nào?
Người bị say nắng, say nóng sẽ có những dấu hiệu: người mệt mỏi, vã mồ hôi, mặt đỏ, nhức đầu, chóng mặt, buồn nôn, nôn mửa, sốt cao 42-44 oC … không cấp cứu kịp thời có thể dẫn đến hôn mê, co giật, nạn nhân có thể tử vong.
3. Xử trí thế nào khi bị say nắng, say nóng?
-         Chuyển ngay ra nghỉ ngơi ở nơi thoáng mát;
-         Uống nước mát cho đỡ khát;
-         Tắm mát, chườm mát, quạt mát;
-         Không chườm đá trực tiếp lên da sẽ gây co mạch, làm giảm thải nhiệt và gây bỏng lạnh;
-         Không nên dùng thuốc hạ nhiệt vì thuốc không có tác dụng hạ sốt mà thuốc còn có thể gây thêm tổn thương cho gan;
-         Trường hợp xử trí ban đầu không có kết quả và có biểu hiện nặng hơn cần đưa ngay đến cơ sở y tế gần nhất để được chữa trị kịp thời.
4. Ai là người có nguy cơ bị say nắng, say nóng
Tất cả những người làm việc trong môi trường: nắng, nóng trên 36oC độ ẩm không khí lớn hơn 80%, bí gió đều có thể bị say nóng, say nắng, nhưng một số đối tượng sau sẽ có nguy cơ cao hơn như:
-         Trẻ em;
-         Người già;
-         Phụ nữ có thai và sản phụ;
-         Người mắc bệnh tim mạch;
-         Người bị viêm nhiễm, suy dinh dưỡng.
5. Làm gì để phòng tránh tác hại của nắng, nóng?
-         Luôn tạo môi trường thoáng, mát, tránh nắng;
-         Hạn chế làm việc, di chuyển ngoài trời nắng nóng vào những giờ cao điểm từ 11 giờ trưa tới 16 giờ chiều;
-         Nếu phải làm việc, di chuyển ngoài trời nắng nóng cần đội nón mũ che kín đầu và gáy. Mặc quần áo thoáng, mát, sáng mầu để dễ thoát mồ hôi, thoát nhiệt và tránh hấp thu nhiệt từ môi trường;
-         Uống nhiều nước khi khát, nước nên pha thêm một chút muối hoặc Oresol;
-         Không nên quá gắng sức. Khi cảm thấy mệt mỏi, vào chỗ râm mát nghỉ ngơi;
-         Khi làm việc dưới nắng không nên uống rượu, cà phê gây đi tiểu nhiều làm mất nước;
-         Khi ngủ trong phòng có điều hòa không khí nên để nhiệt độ phòng 27-28oC;
-         Hạn chế ra vào liên tục khi phòng có sử dụng điều hòa không khí để tránh Shock nhiệt.


Phòng khám Xuân Tuyên

Thứ Sáu, 11 tháng 12, 2015

Thứ Bảy, 5 tháng 12, 2015

chứng chỉ quản trị kinh doanh

Chứng chỉ QTKD của Thạc sỹ, Bác sỹ Nguyễn Văn Xuân

Sau một chuỗi ngày vất vả Ths, Bs. Nguyễn Văn Xuân đã hoàn thành khóa học Quản trị kinh doanh tại trường đại học Kinh Tế quốc dân và đã được giám đốc  trường đại học Kinh Tế quốc dân cấp chứng nhận.

Chứng chỉ quản trị kinh doanh của thạc sỹ, bác sỹ Nguyễn Văn Xuân